Select language:

Nghiên cứu tiềm năng phát triển các loài cây đặc sản rừng có giá trị kinh tế tại huyện Na Hang và Lâm Bình

Thứ tư - 31/05/2017 04:26
                Ở nước ta, nghiên cứu về hệ thực vật ở Na Hang và Lâm Bình chưa có nhiều, Đặng Huy Huỳnh và cộng sự (1993) là những người đầu tiên nghiên cứu về hệ thực vật ở Khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang và đã xác định được 244 loài. Cox (1994) đã ghi nhận sự có mặt của 353 loài.
thaoluannhomTuyenQuang
thaoluannhomTuyenQuang

                Sau đó, Mike Hill và Neville Kemp (1996) đã xác định và thống kê được 607 loài thuộc 123 họ thực vật bậc cao có mạch thuộc phân khu nghiêm ngặt phía Nam khu bảo tồn; Mike Hill và Dan Hallam (1997) đã xác định và thống kê được 918 loài thuộc 135 họ thực vật bậc cao có mạch thuộc phân khu nghiêm ngặt phía Bắc khu bảo tồn.
               
Năm 2006 Nguyễn Nghĩa Thìn và các cộng sự đã nghiên cứu và cho các kết quả nghiên cứu về thảm thực vật ở khu vực này, về cấu trúc phân loài, về phổ dạng sống, về phổ các yếu tố địa lý, về mối quan hệ với các hệ và khu hệ thực vật khác và giá trị nguồn tài nguyên thực vật; từ đó các tác giả đã phát hiện và bổ sung thêm một số loài mới cho thực vật nơi đây. Từ kết quả nghiên cứu này cho thấy, thực vật khu vực Na Hang đa dạng và phong phú về thành phần loài. Đã thống kê được 709 loài có giá trị sử dụng, chiếm 61,02% số loài của hệ, trong đó số loài cây được dùng làm thuốc là 558, chiếm 48,02% tổng số loài toàn hệ, còn các giá trị khác chiếm tỷ lệ thấp hơn: Cho gỗ 165 loài chiếm 14,2%, ăn được 167 loài chiếm 14,37%, làm cảnh 109 loài chiếm 9,38%, thức ăn gia súc 40 loài chiếm 3,44%, làm phân xanh 3 loài chiếm 0,26% và cây độc 11 loài chiếm 0,95% tổng số loài trong hệ. Kết quả này cho thấy thực vật khu vực này có nhiều loài cây có giá trị cao về kinh tế, có khả năng sử dụng để phát triển sinh kế hộ gia đình nông thôn

              Từ những nghiên cứu cụ thể trên đã cho thấy, tiềm năng phát triển cho lâm sản ngoài gỗ và đặc biệt là những loài cây đặc sản có giá trị tại địa phương là rất lớn. Chính vì vậy, việc nghiên cứu tiềm năng về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, kiến thức bản địa và kiên thức mới liên quan đến phát triển các loài cây đặc sản rừng có giá trị kinh tế tại hai huyện Na Hang và Lâm Bình là rất cần thiết.
              Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra những thuận lợi, khó khăn trong việc phát triển các loài cây đặc sản rừng có giá trị tại huyện Na Hang và huyện Lâm Bình:
a) Thuận lợi để phát triển các loài cây đặc sản rừng

            - Đa dạng về thành phần loài: Kết quả điều tra cho thấy, khu vực Na Hang và Lâm Bình có rất nhiều loài cây cho các sản phẩm ngoài gỗ, trong số đó có nhiều loài cho các sản phẩm đặc sản như Quế, Sấu, Trám, Sa nhân, mây, song, tre nứa,… Đây là những loài cây có giá trị, có thể phát triển thành hàng hóa để phục vụ nhu cầu ở địa phương và các khu vực lân cận.

            - Các loài cây cho các sản phẩm ngoài gỗ nói chung dễ thu hái: Đối với đồng bào dân tộc nơi đây, việc thu hái các sản phẩm cây đặc sản rừng đã được tiến hành lâu đời nên phụ nữ, người già và trẻ em cũng có thể tham gia thu hái các sản phẩm này để sử dụng, bán ngoài chợ hay cung cấp cho các thương lái.

            - Việc sơ chế các sản phẩm ngoài gỗ nhìn chung là khá đơn giản: đây là điều kiện thuận lợi để cho các nhà máy, các doanh nghiệp sau này có thể thu mua với khối lượng lớn các sản phẩm này từ người dân.

            - Đa phần các loài cây đặc sản thường cho sản phẩm sớm nên việc kinh doanh những loài này được người dân hoàn toàn ủng hộ, vì nó đáp ứng nhanh về nhu cầu sinh kế cho người dân đặc biệt là người nghèo.

            - Giá trị của các sản phẩm cây đặc sản rừng thường cao hơn so với giá trị của nông sản hay sản phẩm gỗ nên việc kinh doanh các loài cây này thường mang lại lợi nhuận gấp nhiều lần so với việc trồng cây nông lâm nghiệp trên cùng một diện tích canh tác, vì vậy người dân địa phương sẽ sẵn sàng thay thế các cây nông nghiệp bằng các loài cây cung cấp các sản phẩm đặc sản rừng để có thu nhập cao hơn.

            - Thị trường cho các sản phẩm cây đặc sản rừng thường rộng lớn, nhiều nơi có nhu cầu sử dụng các sản phẩm này nên việc phát triển các loài cây này sẽ mang lại nhiều lợi ích kinh tế.

b) Những khó khăn:

            - Đa số sản phẩm của các loài cây đặc sản rừng thường được thu hái trong rừng tự nhiên, đặc biệt là loại rừng giàu và rừng trung bình, tuy nhiên diện tích hai loại rừng này ngày một suy giảm. Vì vậy nhiều loài cây có giá trị đang có quy cơ bị tuyệt chủng nếu chúng ta không có biện pháp bảo vệ và phát triển.

            - Giá cả thị trường cho các sản phẩm cây đặc sản rừng thường dao động mạnh, nhiều mặt hàng năm trước có giá cao, nhu cầu lớn; năm sau giá giảm, nhu cầu tiêu thụ thấp khiến cung vượt quá cầu, giá thu mua lại giảm.

            - Việc gây trồng và phát triển các loài cây đặc sản rừng chưa thực sự được quan tâm, ở nhiều nơi, nhiều người dân còn chưa rõ khái niệm cây đặc sản rừng.

            - Công nghệ chế biến các sản phẩm của cây đặc sản rừng nói chung là còn lạc hậu, vẫn dựa vào hình thức thủ công là chính.

            - Trình độ dân trí thấp, nên việc tiếp cận khoa học kỹ thuật còn hạn chế dẫn đến việc gây trồng và phát triển các loài cây đặc sản gặp nhiều khó khăn.

            - Nguồn giống chất lượng cao còn ít, đa số các giống được sản xuất trong vùng thường là những giống xô bồ, chưa qua tuyển chọn.

Tác giả bài viết: TS. Lã Nguyên Khang

Nguồn tin: Viện Sinh Thái rừng và môi trường

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Hướng nghiên cứu trọng điểm:
Hướng nghiên cứu trọng điểm Viện Sinh thái rừng và Môi trường (Research focus of IFEE):
 
1. Phát triển ứng dụng thiết bị di động (smart phones, tablets) trong khai thác, giám sát, cập nhật hệ thống cơ sở dữ liệu rừng ven biển và tập huấn
(Developing applications of mobile devices (smart phones, tablets) in the access, monitoring and udating of the coastal forest database system and training)  

2. Khảo sát lập địa; thiết kế phục hồi, trồng mới và các giải pháp bảo vệ rừng trồng ven biển cho các xã vùng dự án phục vụ công tác trồng rừng cho 2 năm 2020 - 2021
(Consulting services on site surveying; designing restoration, new planting and solutions for protection of coastal plantation forest for project communes for the afforestation in period 2020-2021)

3.  Rà soát, điều chỉnh giao đất phục vụ cấp đổi, cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, rừng cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng trên địa bàn 05 xã thuộc huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La 
(Review and revise red books in Bac Yen, Son La)

4. Điều tra, đánh giá thực trạng và đề xuất một số giải pháp khôi phục, phát triển hệ sinh thái rừng khộp ở Tây Nguyên
(Survey, evaluate the current situation and propose a number of solutions to restore and develop the ecosystem of dipterocarp forest in the Central Highlands)
Thống kê
  • Đang truy cập94
  • Máy chủ tìm kiếm1
  • Khách viếng thăm93
  • Hôm nay27,751
  • Tháng hiện tại366,809
  • Tổng lượt truy cập21,656,693
Thăm dò ý kiến

Bạn biết gì về Viện Sinh thái rừng và Môi trường?

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây